Tôi rất
tin tưởng trong khoa học và công nghệ, Việt Nam sẽ
t́m ra được “khe cửa hẹp” để phát triển.
PV
thực hiện
(Bài này đă được đăng trong tạp
chí Tia Sáng của Bộ Khoa Học và Công Nghệ số
tháng 8.2004 trang 20-21)
Đầu năm 2004, một phái đoàn của
Viện Khoa học Quốc Gia Hoa Kỳ (National Science
Foundation) dưới sự hướng dẫn của Giáo
sư Vơ Văn Tới, người ngày 17/5 vừa qua
được Tổng thống Mỹ G. Bush bổ nhiệm
vào Ban Giám đốc thuộc Quỹ học bổng Chính phủ
Hoa Kỳ dành cho Việt Nam (VEF), đă viếng thăm một
số viện nghiên cứu và trường đại học
có giảng dạy về Công Nghệ Y Sinh Học tại Việt
Nam để thẩm định nhu cầu và đề xuất
một số biện pháp để phát triển ngành công
nghệ này tại Việt Nam.
Giáo sư Vơ Văn Tới hiện đang
công tác tại khoa Y và khoa Khoa học máy tính và Kỹ thuật
điện thuộc trường Đại học Tufts và
là một thành viên nghiên cứu hậu Tiến sĩ tại
Trung Tâm BE thuộc bộ phận kỹ thuật và khoa học
y tế của trường Đại học Harvard và Học
viện Kỹ thuật Massachusettes (MIT). Ông
đă tạo ra chương tŕnh và xây dựng khoa Ứng dụng
những giải pháp kỹ thuật cho các vấn đề
y tế - Biomedical Engineering (BE). Ông cũng đă có công
sáng lập và là Phó giám đốc của Viện Nghiên cứu
về Mắt tại Sion, Thụy Sỹ, người đồng
sáng lập tổ chức gồm các giáo sư đại học
người Việt gốc Bắc Mỹ.
Tại khoa BE thuộc trường Đại
Học Tufts, Giáo sư Vơ Văn Tới đă xây dựng một
dự án khởi xướng khoa BE ảo
chuyên đào tạo các nghiên cứu sinh người Việt.
Tia Sáng đă có cuộc trao đổi với
ông về VEF và dự án mô h́nh phân khoa ảo
dành cho nghiên cứu sinh ngành Y Sinh của Việt Nam.
PV: Xin Giáo sư cho biết v́ sao ông
được Tổng thống Mỹ bổ nhiệm vào
Ban Giám đốc VEF?
GS. Vơ Văn Tới:
VEF là cơ quan trực thuộc Liên bang Mỹ hoạt động
độc lập, được thành lập nhằm củng
cố và tăng cường những hoạt động
khoa học, kỹ thuật, y tế của Việt Nam thông
qua việc trao đổi về giáo dục và hợp tác về
khoa học, kỹ thuật. Quỹ có 13 thành viên gồm 6 người
nước ngoài do Tổng thống bổ nhiệm và 7 người
đại diện cho Chính phủ trong đó có các Ngoại
trưởng, các thành viên thuộc Uỷ ban Tài chính và Giáo dục
của Thượng và Hạ Nghị Viện Mỹ. Ngân sách
hàng năm của VEF là 5 triệu USD và kéo dài trong 20 năm,
chủ yếu dành cho việc đưa sinh viên và nghiên cứu
sinh Việt Nam sang học tại Mỹ.
Tôi biết có một số giáo
sư, nhà khoa học giới thiệu tôi vào chức vụ
này, nhưng v́ sao được bổ nhiệm th́ tôi hoàn
toàn không biết. Nhưng tôi nghĩ đó
vừa là một vinh dự vừa là một cơ hội tốt
để tôi có thể giúp Việt Nam chọn được
những sinh viên tốt nhất được du học ở
Mỹ.
Cách lựa chọn nghiên cứu sinh, sinh viên
Việt Nam
đi học o Mỹ của VEF như thế nào?
Theo tôi được biết năm nay có khoảng
1500 sinh viên nộp đơn xin du học Mỹ. Qua hồ
sơ VEF sẽ chọn trong số đó khoảng 400 em và tổ
chức thi tuyển để lấy 150 em sẽ tham dự
cuộc phỏng vấn do các giáo sư trong viện Hàn Lâm
khoa học Mỹ tiến hành vào đầu tháng 8 để
lựa chọn được 50 em giới thiệu cho các
trường Đại học nổi tiếng của Mỹ.
Các bạn có thể biết cụ
thể hơn việc tuyển chọn nghiên cứu sinh của
VEF qua trang web của VEF.
Tôi nghe nói không ít em dự thi đi học theo VEF tŕnh độ thấp. Có em dự thi
vào ngành vật lí mà hiểu lơ mơ về cơ học
lượng tử, big bang. Có đúng vậy
không?
Tôi không được nghe ai nói
như vậy. Theo tôi tŕnh độ của
sinh viên Việt Nam
khá cao, có ư chí và cách làm việc tốt. Mặt khác trong
điều kiện hầu hết các trường Đại
học ở Việt Nam sách giáo khoa, tài liệu, pḥng thí nghiệm,
chất lượng giảng viên … c̣n thiếu thốn và hạn
chế nên cần có một cái nh́n khách quan trong việc đánh
giá sinh viên Việt Nam với sinh viên Mỹ và các nước.
Tôi rất tin tưởng vào sự thành đạt
của sinh viên Việt Nam,
chỉ mong các em có tính tự chủ cao hơn.
Tôi không đồng ư với một
số người Việt o Mỹ đánh giá nền giáo dục
của Việt Nam
là lạc hậu. Hơn 10 năm qua có nhiều dịp
được làm việc với nhiều cơ sở
nghiên cứu và trường đại học ở Việt
Nam tôi thấy mặc dù có rất nhiều điều cần
cải tổ nhưng trong nghiên cứu và giảng dạy
Việt Nam đă có những bước phát triển đầy
khích lệ, thậm chí đă có một số ít lĩnh vực,
công tŕnh có tầm vóc quốc tế.
Xin giáo sư cho biết mục tiêu của dự
án ảo là ǵ?
Việt Nam
hiện rất cần đội ngũ
giảng viên xuất sắc về kỹ thuật và công nghệ.
Muốn vậy các giảng viên phải được
làm việc trong môi trường có cơ sở vật chất,
có cộng sự viên đắc lực, và có một cơ
chế khuyến khích, đăi ngộ thích hợp. Hơn nữa, một ngành kỹ thuật thành công
đ̣i hỏi kiến thức về quản trị, biết
làm thế nào để chuyển hoá các kết quả nghiên
cứu thành sản phẩm đứng vững trên thị
trường và sinh lợi. V́ vậy tôi xây dựng mô
h́nh đào tạo môt thế hệ mới của các giảng
viên kỹ thuật có nhiêm vụ thực hiện và quảng
bá sự liên hệ mật thiết giữa ba phương
diện: giáo dục, nghiên cứu khoa học và kinh thương
(Entrepreneurshop). Mô h́nh này có thể áp dụng được
cho mọi lĩnh vực khoa học và kỹ thuật mũi
nhọn và cho bất kỳ một trường đại
học nào. Cụ thể, chúng tôi đề nghị một
dự án nhằm thiết lập một
mô h́nh của một phân khoa ảo về Kỹ Thuật Y
Sinh của một trường đại học Việt Nam
trong ḷng Đại Học Tufts. Đại Học
Tufts sẽ đóng vai tṛ người nuôi dưỡng để
gây dựng giai đoạn h́nh thành và trưởng thành của
phân khoa ảo này. Phân khoa này sẽ được
thực sự phát triển tại một đại học
ở Việt Nam sau
khi các thành viên của phân khoa ảo này tốt nghiệp tại
Đại học Tufts và trở lại Việt Nam.
Tại sao dự án lại
bắt đầu với kỹ thuật Y Sinh?
Kỹ thuật Y Sinh là một bộ môn đa
ngành, nó nối liền các ngành khoa học tự nhiên và y tế
với các ngành khác như kỹ thuật, lư hoá và toán học
đ̣i hỏi sự hiểu biết chuyên sâu trong các lĩnh
vực khác nhau của ngành khoa học ứng dụng và khoa
học cơ bản cũng như kỹ thuật.
Tại Việt Nam, trong những năm vừa
qua, sự quan tấm đến các hoạt động của
ngành Kỹ Thuật Y Sinh đă gia tăng đáng kể. Mặc dù hiện tại Việt Nam không có những công nghệ
tiên tiến và tri thức ứng dụng (know-how) rộng răi,
nhưng có những nhà nghiên cứu có khả năng chuyên môn
cao. Họ luôn chú tâm đến những
kỹ thuật mới có thể cung cấp cho họ cơ
hội và sự phát triển có hệ thống trong lĩnh
vực này. Chính phủ và các nhà lănh đạo
đại học Việt Nam đều nhận thức
rơ tầm quan trọng của lĩnh vực Kỹ Thuật
Y Sinh. Họ cũng đang nỗ lực
phát triển này bằng cách tích cực t́m sự ủng hộ
và hợp tác quốc tế, đặc biệt từ phía
Hoa Kỳ.
Vậy cụ thể phân khoa ảo về Kỹ
Thuật Y Sinh sẽ tuyển lựa sinh viên và giảng dạy
như thế nào?
Phân khoa ảo về Kỹ Thuật
Y Sinh sẽ gồm những sinh viên Việt Nam tuyển chọn từ những
ngành chuyên môn có thể khác nhau của một trường
đại học tại Việt Nam. Nhóm sinh viên này sẽ
qui tụ trong ba nhóm nhỏ: quản trị, kinh thương
và nghiên cứu. Sinh viên của hai nhóm đầu
học chương tŕnh thạc sĩ về ngành kỹ thuật
y sinh, c̣n sinh viên ở nhóm thứ ba sẽ học tiến sĩ
về ngành này. Tất cả các ứng
viên phải có bằng thạc sĩ ở Việt Nam và
một số kinh nghiệm giảng dạy hoặc quản
trị. Trong quá tŕnh học tập, sinh viên sẽ học
đúng theo chương tŕnh y sinh của
đại học Tufts, tham gia vào các đề tài nghiên cứu
và giảng dạy, viết dự án dự thảo và xuất
bản công tŕnh nghiên cứu khoa học. Cả
nhóm sẽ cùng học phương thức điều hành
phân khoa và thiết kế chương tŕnh giáo dục và đào
tạo cho trường đại học của ḿnh.
Trong thời gian học tập tại Hoa Kỳ,
sinh viên Việt Nam
có thể về nước dạy các khoá học hè tại
trường đại học của ḿnh cùng với các
giáo sư Hoa Kỳ.
Trong khuôn khổ của dự án
này, chúng tôi đă đề xuất mô h́nh thử nghiệm
trước hết ứng dụng cho một trường
đại học, sau đó sẽ luân chuyển tới các
trường khác. Đối với môi trường đại
học chương tŕnh này sẽ tiếp nhận hai sinh
viên học quản trị trong ṿng 2 năm; ba sinh viên học
kinh thương trong ṿng hai năm, 3 sinh viên nhóm nghiên cứu
làm tiến sĩ trong ṿng 5 năm, nhu vậy mỗi trường
đại học sẽ có tổng số là 25 năm học
bổng.
Hiện nay với các nước
nghèo đói cơ hội phát triển về khoa học công
nghệ ngày càng khó. Chẳng hạn trong lĩnh vực
công nghệ sinh học, theo Giáo sư là Việt Nam có nhiều
điều kiện phát triển, nhưng Singapore và Trung Quốc,
những nước có tiềm lực kinh tế, khoa học
công nghệ hơn Việt Nam nhiều lần cũng đang
đầu tư rất lớn vào lĩnh vực này. Vậy Việt Nam làm thế nào để
có thể cạnh tranh với họ được?
Tôi c̣n nhớ đầu năm
1999 khi đi thăm một số tỉnh ở đồng
bằng song Cửu Long tôi thấy bà con sử dụng chiếc
máy đập lúa. Khi hỏi, được biết
chiếc máy đó do một người nông dân cải tiến
từ chiếc máy cày. Tôi rất phục sự năng động
và sáng tạo
của người dân Việt Nam. V́ vậy tôi tin rằng
nếu nhà nước biết đầu tư đúng hướng
(chẳng hạn như Cuba
đă đầu tư cho công nghệ cách đây vài chục
năm) th́ nhất định chúng ta sẽ t́m ra được
“khe cửa hep” để phát triển.
Gần đây, Đảng và nhà nước
Việt Nam có đề
ra một số chính sách mới trong việc thu
hút chi thức Việt Nam
ở nước ngoài tham gia xây dựng đất nước.
Theo giáo sư liệu những chính sách đó có
đem lại hiệu quả không?
Theo tôi những chính sách đó rất
quan trọng nhưng trước hết vẫn là tấm ḷng
của các nhà khoa học trong và ngoài nước. Đầu những năm 1990 khi về nước
tôi đă trao đổi và mong được hợp tác với
nhiều người về sự phát triển khoa học
của đất nước nhưng hầu như chẳng
mấy ai nghe. Nhưng là công dân Việt Nam tôi
luôn nghĩ ḿnh phải có trách nhiệm với đất nước
nên sau nhiều lần đi về, thuyết phục, dần
dần công việc của tôi với các đồng nghiệp
ở trong nước ngày càng có hiệu quả hơn.
Trong các nhà quản lí khoa học mà tôi có dịp
làm việc, người đă để lại trong tôi một
ấn tượng rất sâu sắc là anh Hoàng Văn Phong
(khi đó anh đang làm Hiệu trưởng trường
Đại học Bách Khoa, Hà Nội). Anh là một người
có tầm nh́n xa, lớp lang và có tính thực
tiễn cao. Chính anh đă khuyến khích tôi phân
khoa ảo cho Việt Nam.
Xin cám ơn Giáo sư và chúc dự án ảo của Giáo sư sớm trở thành
hiện thực.